Giáo dục đại học chuyển biến rõ rệt khi thực hiện tự chủ

0
8

Nhanh chóng thích ứng, thay đổi khi tự chủ

Đánh giá kết quả triển khai tự chủ của các cơ sở GD-ĐT, nhất là tự chủ của các trường đại học (kết quả thí điểm sau 3 năm thực hiện tự chủ tại các trường đại học), báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT của Bộ GD&ĐT cho biết: Trước năm 2014, quyền tự chủ trong hoạt động chuyên môn (đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế…) của các cơ sở giáo dục đại học còn bị hạn chế.

Các cơ sở giáo dục đại học chưa phát huy được năng lực chủ động, sáng tạo của cơ sở giáo dục đại học và đội ngũ các nhà khoa học trong công tác đào tạo, khoa học và công nghệ để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có tính “đột phá chiến lược” để phát triển kinh tế đất nước. Hoạt động của cơ sở giáo dục đại học vẫn còn mang nặng tính hành chính hóa, chưa thực sự chủ động, sáng tạo, kịp thời trong quản trị và tổ chức thực hiện.

Sinh viên trao đổi bài. Ảnh minh hoạ/Internet

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 – 2017 và giao cho 23 cơ sở giáo dục đại học công lập thí điểm tự chủ. Các trường được giao quyền mạnh hơn trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức và tài chính; chủ động, linh hoạt hơn về tổ chức bộ máy, tuyển dụng nhân sự và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, từng bước chủ động đổi mới cơ chế để hoạt động ngày càng hiệu quả.

Trong bối cảnh số lượng các trường trong và ngoài nước ngày càng tăng lên, nguồn tuyển sinh trong nước chững lại, tổng quy mô tuyển sinh giảm với yêu cầu chất lượng đào tạo cao hơn, các trường tự chủ đã nhanh chóng thích ứng, thay đổi định hướng đào tạo ở các hệ khác nhau. Quy mô đào tạo chính quy đại trà có phần suy giảm trong khi quy mô đào tạo chương trình tiên tiến, chất lượng cao tăng nhanh, đặc biệt từ năm 2015.

Kể từ khi Nghị quyết 77 được triển khai, thủ tục hành chính được giảm bớt, thời gian mở ngành được rút ngắn hơn đã giúp các trường chủ động trong đào tạo, tận dụng cơ hội mở các ngành đào tạo mới đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của xã hội. Quy mô tuyển sinh của các trường có xu hướng giảm xuống sau khi tự chủ.

Số lượng đề tài khoa học công nghệ tăng mạnh

Trên cơ sở được giao quyền tự chủ, các trường đã chủ động hơn trong việc quyết định hướng nghiên cứu và tham gia các nhiệm vụ khoa học công nghệ. Trong giai đoạn 2013 – 2016, số đề tài khoa học công nghệ được phê duyệt từ 2013 – 2016 nhìn chung tăng lên, trong đó số lượng đề tài cấp Nhà nước và nghị định thư khoảng 15 – 20 đề tài/năm.

Đặc biệt, số lượng đề tài khoa học công nghệ cấp trường tăng mạnh từ 426 đề tài trong năm 2013 lên đến 546 đề tài trong năm 2016. Sự gia tăng này thể hiện sự định hướng rõ ràng về nghiên cứu khoa học cũng như tính chủ động của nhà trường trong việc phân bổ và sử dụng ngân sách của trường cho nghiên cứu khoa học.

Bên cạnh đó, số lượng các công trình, bài viết được công bố cũng tăng lên nhanh chóng. Các công trình khoa học được đăng tải trên các tạp chí chuyên môn nước ngoài tăng lên nhiều nhất (số lượng năm 2016 tăng hơn 2 lần so với năm 2013 – tăng từ 574 lên đến 1437 công trình).

Số lượng các bằng độc quyền và giải pháp hữu ích cũng tăng đáng kể, từ 21 (năm 2013) lên đến 61 (năm 2016), trong đó dẫn đầu là Trường Đại học Tôn Đức Thắng (liên tiếp các năm đều có bằng sáng chế), tiếp đến là Trường Đại học Công nghiệp thực phẩm TPHCM, Trường Đại học Điện lực. Số hợp đồng chuyển giao công nghệ năm 2016 tăng gấp 1,33 so với năm 2013 và đó là thế mạnh của Trường Đại học Kinh tế TPHCM, Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, Học viện Nông nghiệp Việt Nam…

SV thực hành tin học. Ảnh minh hoạ/Internet

Tự chủ đại học phải gắn liền với đổi mới quản trị đại học

Tự chủ về tổ chức bộ máy và nhân sự được đa số lãnh đạo cấp cao tại các trường nhìn nhận là khâu then chốt trong quá trình tự chủ của các trường đại học. Chính vì thế, nhiều trường đã thông suốt việc tự chủ đại học phải gắn liền với đổi mới quản trị đại học, trong đó thực hiện ngay việc thành lập Hội đồng trường.

Từ thời điểm được giao thí điểm tự chủ, các trường đã từng bước hình thành cơ cấu nhân lực phù hợp với lực lượng lao động trực tiếp (giảng viên) tăng lên, trong khi đội ngũ lao động gián tiếp (chuyên viên và nhân viên) giảm xuống, trong đó chú trọng hơn đến việc sử dụng công nghệ thông tin hoặc thuê ngoài nhằm tăng hiệu quả hoạt động của bộ máy.

Số lượng cán bộ/giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư và học vị từ thạc sĩ trở lên tại các trường đã tự chủ tăng lên đáng kể, số lượng cử nhân giảm xuống so với giai đoạn trước tự chủ.

Theo số liệu báo cáo của các trường, nhìn chung các trường đảm bảo được toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người học, miễn giảm học phí cho các đối tượng chính sách, trích lập quỹ học bổng khuyến khích theo quy định và đều có chênh lệch thu lớn chi.

Các trường đã trích lập quỹ đầu tư phát triển sự nghiệp, quỹ khen thưởng, phúc lợi, ổn định thu nhập. Thu nhập của người lao động đã tăng lên rõ rệt so với thu nhập bình quân giai đoạn trước. Cơ chế thí điểm tự chủ đã tạo điều kiện cho các trường chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch tài chính và dự toán ngân sách ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

Các trường chủ động trong quản lý, sử dụng các nguồn tài chính để triển khai thực hiện các nhiệm vụ của trường phục vụ cho công tác giảng dạy học tập, nghiên cứu khoa học trên cơ sở chấp hành quy chế thu chi nội bộ của trường và các quy định của Nhà nước về quản lý tài chính đảm bảo sử dụng tiết kiệm hiệu quả các nguồn kinh phí.

Một số địa phương đã triển khai hiệu quả công tác tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục trực thuộc, giao quyền tự chủ tài chính cho 100% đơn vị trường học trên địa bàn (Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Bắc Giang…). Ngoài kinh phí chi thường xuyên, các địa phương đã bố trí nguồn vốn xây dựng cơ bản để hỗ trợ xây dựng trường chuẩn quốc gia và kiên cố trường, lớp học.

Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT cũng thẳng thắn nhìn nhận tự chủ đại học còn nhiều hạn chế. Cơ chế, chính sách về tự chủ còn thiếu và chưa đồng bộ; chưa phát huy tốt tính tự chủ, năng động, sáng tạo của các địa phương, cơ sở giáo dục còn hạn chế. Bộ GD&ĐT đồng thời nhấn mạnh, việc tiếp tục đổi mới công tác quản lý; đẩy mạnh việc thực hiện tự chủ trong các cơ sở đào tạo; cơ sở giáo dục nghề nghiệp; coi trọng quản lý chất lượng – đây là giải pháp đột phá trong giai đoạn tới.

Nguồn: giaoducthoidai.vn

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.